Các chuyên gia pháp luật cho rằng, nhìn vào Luật Bồi thường Nhà nước có thể đánh giá được tính dân chủ của mỗi nước. Nhưng để thực thi được Luật bồi thường Nhà nước (BTNN) phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam vẫn còn có nhiều ý kiến trái chiều...
Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam Phạm Quốc Anh cho biết, ngày 13/10/2008, Chính phủ đã có tờ trình Quốc hội về Dự án Luật BTNN. Với mục tiêu tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ và hiệu quả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền được bồi thường của mình đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật do người thi hành công vụ (công chức) gây ra: Luật BTNN ra đời chính là dân chủ hoá đời sống xã hội. Luật này đặt vai trò, địa vị pháp lý của người dân ngang bằng với Nhà nước. Nghĩa là Luật cho phép người dân kiện, Nhà nước phải bồi thường khi các công chức, viên chức của mình có lỗi. Điều này có ý nghĩa to lớn tới tiến trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính của đất nước...
Ông Nguyễn Văn Bình - Giám đốc Nhà pháp luật Việt Pháp (Bộ Tư pháp) rất băn khoăn: “Vì Dự thảo luật coi trách nhiệm bồi thường Nhà nước là một “dạng đặc biệt của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” thì về mặt quan điểm, học thuật là chưa thỏa đáng. Vì quan hệ dân sự là quan hệ khác, đây là quan hệ hoàn toàn bất bình đẳng, một bên là dân, một bên là Nhà nước. Khi nói “kiện”, nghĩa là phải có nghĩa vụ chứng minh, mà chứng cứ thì các cơ quan Nhà nước “nắm” hết, người đi kiện luôn ở thế yếu. Thứ hai là vấn đề bồi hoàn (trách nhiệm hoàn trả của công chức); ý tưởng thì tốt, nhưng tính khả thi sẽ không đi đến đâu”
Ông Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Vụ trưởng, Vụ Pháp luật Dân sự- Kinh tế, Bộ Tư pháp lại cho rằng, khó khăn nhất của Luật BTNN là khả năng áp dụng thực tế. Khi xây dựng Luật này, hạn chế lớn nhất chính là hệ thống pháp luật của chúng ta thiếu thống nhất và khả năng áp dụng thực tế của Luật này rất khó khăn, làm sao phải đảm bảo hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và công dân. Để đảm bảo tính khả thi cần tính đến điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của Việt Nam. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu chúng ta mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật như mong đợi của đại đa số nhân dân, sẽ tạo sức ép lớn cho Nhà nước và không có tính khả thi.
Trên thực tế, có nhiều hành vi hành chính nếu gây thiệt hại cho người dân thì phải bồi thường nhưng quy định trong Dự thảo còn thiếu. Ví dụ như hành vi ban hành quyết định, thực hiện quyết định hành chính, một số hành vi chỉ đạo hành chính (bằng miệng, ký nháy...). Ngoài ra, theo Dự thảo thì trách nhiệm của công chức rất cao. Nhưng ngược lại, quyền lợi của họ thì còn hạn chế. Ông Nguyễn Quang Ngọc (Bộ Nội vu) khẳng định: “Với Dự thảo luật BTNN như hiện hành, chúng ta khó có thể giữ được những công chức có tâm huyết, năng lực để làm việc trong bộ máy Nhà nước. Cho nên, vấn đề này theo tôi cần phải cân nhắc kỹ!”.
Tổng kết hội thảo, hàng chục ý kiến của các đại biểu góp ý cho Dự thảo BTNN xoay quanh các vấn đề: BTNN trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước quy định ở mức độ nào cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, việc bồi thường nên ở 2 cấp, tạo điều kiện để người bị thiệt được thuận lợi tiếp cận với Toà án, phí và lệ phí xung quanh hoạt động BTNN còn nhiều ý kiến trái chiều. Do vậy, Luật BTNN phải tiếp tục nghiên cứu tính phù hợp. Ngoài ý nghĩa bảo đảm cơ chế thực hiện quyền của người dân, tăng cường trách nhiệm của cán bộ công chức, thúc đẩy cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền thì Luật đi vào cuộc sống cũng là cách Chính phủ thiết lập lại hoạt động hành chính, tăng cường chức năng Nhà nước, niềm tin của người dân đối với hệ thống pháp luật.
Theo báo Công thương |