Tại phiên họp sáng 9.2, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chấp thuận đưa dự án Luật Thủ đô vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2010.
Sau 4 tháng làm việc, tháng 12.2009, Ban soạn thảo trình làng bản Dự thảo Luật Thủ đô với 7 chương, 55 điều. Dự thảo lần 1 và lần 2 chưa được dư luận quan tâm nhiều.
Nhưng Dự thảo lần thứ 3, được công bố ngày 16.1.2010, với 6 chương và 59 điều, đã bị dư luận phản ứng gay gắt. Sự phản đối chủ yếu là đối với Điều 19 của Dự thảo. Theo đó, người lần đầu đăng ký thường trú tại Thủ đô phải chứng minh có việc làm hợp pháp với mức lương ít nhất bằng hai lần mức lương tối thiểu của người lao động do pháp luật quy định; công dân muốn đăng ký thường trú tại Thủ đô phải đã tạm trú liên tục tại Thủ đô từ 5 năm trở lên; những người không thường trú hoặc tạm trú muốn làm việc tại Thủ đô thì phải có giấy phép lao động do Sở Lao động-Thương binh-Xã hội cấp. Đấy là những quy định trái với Hiến pháp và vi phạm quyền con người bị dư luận phản ứng dữ dội.
Có đại biểu Quốc hội cho rằng “Hiến pháp không có điều khoản nào nói rằng có quy định riêng cho thủ đô;...quy định riêng biệt cho thủ đô không những vướng một số luật hiện hành mà còn vướng Hiến pháp”. Theo tôi, đấy không phải là lý do “vướng Hiến pháp”, mà lý do chính là Điều 19 của Dự thảo lần 3 nêu trên. Hiến pháp không nói tường minh rằng phải có quy định riêng cho thủ đô, thì việc có Luật Thủ đô cũng không trái với Hiến pháp miễn là nội dung của nó phù hợp. Vướng các luật hiện hành thì đã được giải quyết bằng Điều 8 của Dự thảo lần 4.
Ngày 21.2.2010 trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp đã có thể thấy bản Dự thảo mới nhất (lần thứ 4) và nhân dân có thể góp ý trước 1.3.2010. Đáng mừng là các quy định bị phản ứng tại Điều 19 của Dự thảo lần 3 đã được bỏ đi. Ngoài ra Dự thảo lần này chỉ còn 4 chương và 34 điều.
Đi kèm với dự thảo là các Dự thảo về Tờ trình dự án luật, Báo cáo đánh giá tác động, Bản thuyết minh chi tiết, Báo cáo nghiên cứu pháp luật thủ đô nước ngoài, Báo cáo tổng kết Pháp lệnh Thủ đô. Tất cả các tài liệu này đều có thể thấy trên trang thông tin của Bộ Tư pháp. Đó là một điều rất đáng mừng xét về mặt thủ tục.
Tuy nhiên, cần xem xét hiệu quả của việc góp ý trên trang thông tin điện tử. Trên trang thông tin đó của Bộ Tư pháp có 13 văn bản quy phạm pháp luật đang lấy ý kiến đóng góp, kể cả dự thảo Luật Thủ đô, nhưng tất cả mục ý kiến đóng góp đều thấy con số là 0.
Tôi tò mò vào 25 văn bản quy phạm pháp luật đã hết thời hạn lấy ý kiến góp ý cũng tại trang tin đó và thấy tất cả các mục ý kiến đóng góp cũng đều là 0. Không rõ trang đó có lỗi kỹ thuật nào không. Nếu các con số đó là thực, thì số thống kê đáng buồn ấy cho thấy cách góp ý qua trang thông tin điện tử không mấy hiệu quả. Không rõ có bao nhiêu ý kiến đóng góp bằng văn bản được gửi đến Bộ qua đường bưu điện.
Như thế cách góp ý trên các phương tiện thông tin đại chúng (kể cả trên Internet) có lẽ vẫn là kênh được sử dụng nhiều nhất và hiệu quả nhất vì nó cho phép thảo luận. Nếu so sánh các Dự thảo lần 3 và lần 4 cũng như các ý kiến đóng góp, phê phán, đôi khi có đóng góp bị đánh giá là “đao to búa lớn”, nhưng những đóng góp mang tính xây dựng đã có hiệu quả thực sự.
Đấy là một dấu hiệu rất đáng khích lệ đối với các nhà soạn thảo đã biết lắng nghe ý kiến phản biện, cũng như đối với dân chúng góp ý kiến. Sự đối thoại lành mạnh như vậy rất cần được trân trọng và phát huy không những cho việc góp ý cho Dự thảo Luật Thủ đô mà còn cho các chủ đề khác nữa.
Quay lại vấn đề gay cấn của Điều 19 Dự thảo lần 3. Điều này đã được thay bằng Điều 23 trong Dự thảo lần 4 với tên “Quản lý dân cư”:
“1. Dân cư trên địa bàn được quản lý với quy mô, mật độ, cơ cấu hợp lý theo quy hoạch chung, phù hợp đặc điểm của thủ đô”.
“2. Chính quyền thủ đô (hoặc Chính phủ) quy định về quản lý dân cư, các biện pháp kiểm soát nhập cư tự phát trên địa bàn Thủ đô, đặc biệt là khu vực nội đô”.
Báo cáo đánh giá tác động dài 38 trang đã dành hẳn 7 trang (từ trang 7 đến trang 14) để đánh giá 3 phương án giải quyết vấn đề nhập cư (để như hiện trạng; kiểm soát nhập cư theo Điều 19 của Dự thảo 3 chẳng hạn; và dùng các biện pháp khuyến khích để hạn chế tập trung dân cư trong khu vực nội thành và giãn dân ra khu vực ngoại thành), phân tích chi phí và lợi ích của từng phương án và đi đến kiến nghị dùng phương án cuối cùng.
Tuy có thể bàn cãi về nội dung phân tích, nhưng đáng mừng là kết luận hợp đạo lý cuối cùng. Đáng tiếc là hành văn của mục 2 Điều 23 của Dự thảo lần 4 lại không toát ra ý tưởng đó mà vẫn dành cho chính quyền thủ đô (hoặc Chính phủ) quyền đưa ra các biện pháp kiểm soát rất có thể được hiểu và thực thi theo những cách khác nhau. Thay cho đoạn “các biện pháp kiểm soát ... nội đô” nên nêu tường minh là “các biện pháp khuyến khích để hạn chế tập trung dân cư trong khu vực nội thành và giãn dân ra khu vực ngoại thành”.
Có những dấu hiệu đáng khích lệ, nên tăng cường thảo luận vì làm như vậy sẽ góp phần nâng cao dân chủ và có thể tạo ra các chính sách hiệu quả hơn.