Việc áp dụng những quy định hiện hành có liên quan đến khiếu nại, tố cáo và xử lý khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện đang nảy sinh những vướng mắc, gây khó khăn cho các bên liên quan.
Vướng mắc nhiều nhất hiện nay là trường hợp công dân, tổ chức rất khó khăn trong xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại, khởi kiện hành chính liên quan đến đất đai giữa UBND các cấp và Tòa án nhân dân các cấp. Theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai “1. Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai. 2. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau:
a) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;
b) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịchUBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân”.
Trong khi đó, theo quy định tại Điều 12, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì: (“1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Toà án cấp huyện) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:)
a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh thổ với Toà án và của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đó;
2. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Toà án cấp tỉnh) giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:
a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng các cơ quan đó mà người khởi kiện là cá nhân có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc người khởi kiện là cơ quan, tổ chức có trụ sở trên cùng lãnh thổ với Toà án…
Như vậy, theo các quy định hiện hành về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai (Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai), trường hợp công dân chưa “tâm phục khẩu phục” quyết định hành chính lần hai của cơ quan có thẩm quyền thì có thể khởi kiện quyết định hành chính tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền. Ngược lại, theo quy định Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì các cơ quan Tòa án không tiếp nhận và không thụ lý các đơn khởi kiện của công dân đối với các trường hợp đã có quyết định hành chính lần hai. Đây là vướng mắc rất cần được xem xét, tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân cũng như các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành. Các bộ, ngành có liên quan cần sớm nghiên cứu, ban hành Thông tư hướng dẫn về vấn đề này.
Luật Khiếu nại, tố cáo ban hành sau Luật Đất đai, phạm vi điều chỉnh nội dung khiếu nại, tố cáo được quy định trong Luật Đất đai và Luật Khiếu nại, tố cáo phù hợp và thống nhất; bên cạnh đó, Luật Khiếu nại, tố cáo có giá trị pháp lý cao hơn Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Vì lẽ đó, nên quy định, hướng dẫn áp dụng chung cho vấn đề này là căn cứ theo quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo. Như vậy mới hợp lý và thuận lợi cho các bên có liên quan trong quá trình áp dụng.
Khó khăn, vướng mắc nữa trong quá trình giải quyết các khiếu kiện có liên quan đến đất đai hiện nay, đó là việc người khiếu kiện có thái độ bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu kiện của mình. Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 32 của Luật này, người giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do”. Tuy nhiên, một số trường hợp người khiếu kiện không đến làm việc mặc dù đã được cơ quan thụ lý mời rất nhiều lần. Cũng có trường hợp, người khiếu kiện đến làm việc về vấn đề có liên quan vụ việc khiếu kiện, nhưng kết thúc buổi làm việc không ký vào biên bản làm việc để cơ quan có thẩm quyền lưu vào hồ sơ, làm căn cứ giải quyết khiếu kiện.
Pháp luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng về việc xử lý, giải quyết vướng mắc này. Gặp những trường hợp như vậy, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện rất khó khăn, lúng túng. Bởi lẽ, không tiếp tục giải quyết khiếu kiện thì không phù hợp với quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, nhưng vẫn tiếp tục thụ lý giải quyết thì thiếu cơ sở thực tế, pháp lý, không bảo đảm trình tự giải quyết theo quy định của pháp luật có liên quan.
Thiết nghĩ, cấp có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo hướng: nếu người khiếu kiện có thái độ bất hợp tác, không thực hiện việc ký xác nhận biên bản làm việc giúp cơ quan có thẩm quyền đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì cho phép cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, ngừng giải quyết vụ việc. Như vậy sẽ nâng cao trách nhiệm của bên khiếu kiện, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, phù hợp cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết các khiếu kiện, đặc biệt là khiếu kiện liên quan lĩnh vực đất đai.
Nguồn: Báo Người Đại biểu nhân dân
|