Trang chủ VIBOnline |  Giới thiệu |  Trợ giúp |  Liên hệ    
Ý KIẾN CHUYÊN GIA
Kích cầu: Nên mua cổ phần thay vì hỗ trợ lãi suất?
12:41' 23/6/2009
TS. Nguyễn Minh Phong.
Thời gian và cách thức triển khai chính sách kích cầu nên được xem lại, nếu không muốn xảy ra những hệ lụy sau này. Khuyến nghị thẳng thắn này được TS. Nguyễn Minh Phong (Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội) đưa ra khi trao đổi với báo chí. Ông nói:

- Ở Mỹ, khủng hoảng xảy ra khi các doanh nghiệp địa ốc bị phá sản, gây ra vỡ nợ dây chuyền lên hệ thống ngân hàng. Nhưng ở Việt Nam thì lại không phải vậy. Suy giảm kinh tế ở Việt Nam là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, do thắt chặt thị trường tiêu thụ và một số khó khăn liên quan đến những hợp đồng mới.

Chính vì vậy, bản chất khủng hoảng của Việt Nam và Mỹ là hoàn toàn khác nhau, nhưng cả hai lại sử dụng chung một biện pháp, đó là tung tiền nhà nước ra để cứu doanh nghiệp, cứu nền kinh tế.

Song, dù là chung biện pháp nhưng cách thức triển khai thì lại khác nhau. Trong khi Mỹ dùng tiền đó để mua cổ phần của các doanh nghiệp, rồi sau đó bán ra thị trường, nên họ vẫn có cơ hội thu hồi vốn, còn chúng ta lại “biếu không” cho doanh nghiệp thông qua hỗ trợ lãi suất.

Tuy nhiên, việc hỗ trợ lãi suất đó chỉ là khoản tiền nhà nước cho doanh nghiệp. Còn khoản doanh nghiệp vay của ngân hàng thì vẫn phải trả. Nếu các ngân hàng không thu hồi được thì sẽ tích tụ một khoản nợ khó đòi lớn. Trong trường hợp người dân biết được thực trạng trên thì người ta sẽ thu hồi tiền gửi về, kéo theo nguy hại đến hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, theo tôi thì chúng ta không nên lạm dụng vào chính sách này và tránh xảy ra tình trạng cho vay tràn lan. Nếu tình trạng đầu cơ vào chứng khoán, bất động sản mà "vỡ" một lần nữa thì sẽ rất nguy hiểm.

Dè chừng "bài toán kép"

Nhưng Chính phủ vừa tuyên bố, kích cầu của chúng ta đã “bấm đúng huyệt”, thưa ông?

Khách quan mà nói thì từ đầu năm đến nay, gói kích cầu là thực sự cần thiết đối với nền kinh tế chúng ta. Nhưng nếu lạm dụng, sẽ dễ gây ra hệ quả mới, khó có thể hình dung được. Đơn giản là bởi, việc hỗ trợ lãi suất sẽ gắn với quá trình “bắt tay” giữa doanh nghiệp với ngân hàng, trong đó không loại trừ những hợp đồng vay ảo, dự án ảo, chiếm khống tiền của Nhà nước, tạo ra những khoản nợ khó đòi.

Tất nhiên, khi nền kinh tế vẫn đang suy giảm thì vẫn buộc phải “kích”, nhưng với điều kiện là kích phải tạo ra triển vọng, chứ không phải là kích để rồi tích tụ nên những xung lực nguy hiểm hơn.

Nhiều đại biểu Quốc hội vừa qua quan ngại về những hệ lụy khi giá trị của gói kích cầu chiếm đến 10% GDP. Theo ông thì có đáng lo ngại không?

Hệ lụy mà dễ nhìn thấy nhất là thâm hụt ngân sách sẽ rất lớn. Nếu Chính phủ vay nợ để kích cầu thì cũng có nghĩa là trách nhiệm  để trả nợ là rất lớn.

Còn nếu không thì chúng ta phải tiêu vào phần vốn dự trữ của nhà nước và có thể sẽ làm nó “mỏng” đi. Và rõ ràng, nếu tiền dự trữ càng mỏng thì sức mạnh càng kém.

Nhưng nếu chúng ta in thêm tiền thì lại rất dễ làm cho lạm phát quay trở lại. Khi đó, để giải "bài toán kép" suy thoái - lạm phát chắc chắn sẽ còn nan giải hơn nhiều so với năm 2008.

Nên mua cổ phần thay vì hỗ trợ lãi suất

Ông đánh giá thế nào về khả năng hấp thụ của nền kinh tế đối với gói kích cầu?

Theo tôi thì khả năng hấp thụ sẽ không được lớn lắm, bởi nếu muốn hấp thụ tốt thì các doanh nghiệp phải có được những hợp đồng tiêu thụ tốt. Nhưng hiện nay, trên thế giới thì tình hình vẫn chưa cải thiện nhiều. Các doanh nghiệp nếu đã có hợp đồng tiêu thụ thì họ có thể vay vốn ngân hàng để sản xuất chứ không phải đợi đến vốn kích cầu. Ngoài ra, dù không có thống kê cụ thể nhưng bằng cảm quan, chúng ta cũng có thể thấy được, người dân vay kích cầu tiêu dùng cũng không nhiều.

Do vậy, hiện nay người ta vẫn lo ngại rằng, có một phần  không nhỏ vốn kích cầu đã chảy lạc chỗ, có thể là vào chứng khoán, bất động sản. Nếu đúng như vậy thì quả thật là rất nguy hiểm. Vốn kích cầu là nhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, kinh doanh, khắc phục khó khăn. Nhưng nếu nó lại chảy vào thị trường chứng khoán, bất động sản… thì vừa gây lãng phí cho Nhà nước, vừa làm tăng dư nợ khó đòi, cũng như làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Vậy theo ông, Việt Nam nên tiếp tục triển khai gói kích cầu như thế nào?

Theo tôi, đến cuối năm nay chúng ta cần phải xem xét lại. Chúng ta nên điều chỉnh lại mục tiêu, trọng tâm và nhìn nhận đúng thách thức.

Theo tôi, đến cuối năm nay nên dừng lại việc cho vay đại trà 4%, mà nên chuyển phần vốn đó cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) để tổ chức mua lại cổ phần của các doanh nghiệp có triển vọng.

Nguồn: Báo điện tử Thời báo Kinh tế Việt Nam

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ CHỦ ĐỀ NÀY
(Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết.)
Nikkei
22/06/2009 15:28 (GMT+7)
Tôi xin chia sẻ với TS.Phong về ý tưởng mua cổ phần thay vì hỗ trợ lãi suất:

1. Đối với thị trường Mỹ mức độ kiểm soát của nhà nước không cao, vì vậy việc kiểm soát doanh nghiệp bằng cách mua cổ phần là ý tưởng giảm thiểu sai lầm để thị trường cho "bàn tay vô hình" điều chỉnh.

2. Tại Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp chủ chốt đều do nhà nước chi phối và vẫn tồn tại doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước. Vì vậy nếu mua cổ phần thì chẳng có tác dụng gì.

Theo đánh giá cá nhân, tôi cho rằng gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ là thành công. Mặc dù trước đây tôi nghĩ rằng mua lại nợ xấu của các ngân hàng thương mạ có thể hay hơn.
Hoàng
21/06/2009 14:14 (GMT+7)
"Bệnh nào thì thuốc ấy", Việt Nam suy giảm kinh tế đâu phải vì khủng tài chính do nợ xấu như ở Mỹ mà mua cổ phần, mà do các nước nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế.
Tuấn Anh
21/06/2009 12:48 (GMT+7)
Theo tôi, bản chất của khủng hoảng ở Mỹ và suy thoái ở Việt Nam là khác nhau, do đó không thể lấy cách giải quyết ở Mỹ để áp dụng cho Việt Nam. Theo cách của ông Phong đưa ra để giải quyết bài toán kinh tế tại Việt Nam quả thật rất mới. Tuy nhiên, nếu xét về tính thực tế thì không hiệu quả vì:

Thứ nhất: Các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu để SCIC đi thu thập thông tin, đánh giá tiềm năng của các công ty này chắc mất khá nhiều thời gian (chưa nói đến việc phát sinh tiêu cực trong vấn đền này) nếu không có biện pháp nhanh giải cứu các doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn liệu các doanh nghiệp có tồn tại được đến thời điểm hiện tại hay không?

Thứ hai: Việc mua cổ phiếu của các công ty theo ông Phong là Nhà nước có thể thu hồi vốn. Xét lại thị trường chứng khoán tại Việt Nam, các công ty niêm yết trên sàn trong năm vừa qua không có công ty nào lỗ đến mức có nguy cơ phá sản( trừ BBT) và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Do vậy, nếu bỏ tiền vào đây để mua cổ phần của các công ty này liệu có hợp lý hay không? Còn các cổ phiều OTC có rất nhiều nhưng tính thanh khoản rất thấp và phụ thuộc vào các sàn niêm yết. Vậy nếu Nhà nước đầu tư vào các công ty này thì bao giờ mới có được hiệu quả?

Theo tôi, chủ trương của Nhà nước thời gian qua là hoàn toàn hợp lý. Tất nhiên, việc quản lý vốn của các Ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn và có thể có tình trạng sử dụng vốn vay ưu đãi không đúng mục đính, tuy nhiên số đó không nhiều và việc thực hiện chính sách trên đã đem lại hiệu quả cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần tính đến việc sử dụng vốn kích cầu vào đâu cho đúng và hiệu quả. Nếu hàng sản xuất ra tiêu dùng trong nước không có, xuất khẩu thì chưa mạnh do tiêu dùng tại các nước khác đang hạn chế thì việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong thời gian qua là vô nghĩa.

Theo tôi, Nhà nước nên có biện pháp để kích thích tiêu dùng trong nước, tăng việc làm và thu nhập để mọi người tiêu dùng nhiều hơn và kích thích xuất khẩu. Chỉ khi nào bài toán đầu ra của các doanh nghiệp tốt thì doanh nghiệp sẽ tự mở rộng và phát triển được.
Nguyễn Xuân Thiêm
21/06/2009 10:19 (GMT+7)
Theo tôi, gói kích cầu của chính phủ bằng việc hỗ trợ lãi suất là hợp lý và kịp thời về mặt lý thuyết. Nhưng thực tế thì có rất ít doanh nghiệp vay để phát triển sản xuất kinh doanh, để trả lương công nhân..., rất ít bà con nông dân được vay để phát triển sản xuất nông nghiệp. Dòng tiền hỗ trợ đó thực tế nó đã bị biến tấu để chuyển vào thị trường chứng khoán. Tôi không cần nói cụ thể, nhưng mọi người cũng thừa biết điều đó, thị trường chứng khoán vừa qua đã tăng quá nóng, dòng tiền chảy vào thị trường chứng khoán rất nhiều, vậy nguồn gốc thực sự là đâu?

Theo tôi cần giám sát chặt chẽ việc cho vay hõ trợ lãi suất để phát triển kinh tế thực sự. Nếu không một thời gian ngắn nữa, khi thị trường chứng khoán suy giảm, các khoản nợ xấu của các ngân hàng gia tăng, lúc đó nó sẽ tác động rất tiêu cực cho nền kinh tế Việt Nam. Lúc đó gói kích thích kinh tế của chính phủ không những không có tác dụng mà còn phản tác dụng.
Bùi Sơn
20/06/2009 14:52 (GMT+7)
Đánh giá lại hiệu quả của gói kích cầu là cần thiết tuy nhiên cho đến nay chúng ta đang hỗ trợ lãi suất cho kích cung thì đúng hơn. Vì thực chất là đang vực dậy sức sản xuất cho các doanh nghiệp, để có thể duy trì việc làm cho người lao động. giúp cho họ và doanh nghiệp tồn tại và chờ đợi đơn hàng mới để phát triển.

Cái mà chính phủ cần quan tâm hơn là giải quyết đầu ra cho doanh nghiệp, vậy duy trì sản xuất và hướng nội tiêu dùng là hoàn toàn có thể. Đặc biệt cần tăng cường cho đầu tư công vào cơ sở hạ tầng, tăng khả năng thanh toán cho các công trình và các dự án. Nâng cao hiệu quà đầu tư vào công nghệ mới hoặc đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ. Đưa các nguồn lực về nông thôn để tăng sức đề kháng cho nền kinh tế nội địa, đó là hướng đi rất đúng.

Để gói kích cầu có hiệu quả cao thì nhất thiết không nên đầu tư vào chứng khoán dù thông qua bất kỳ một hệ thống nào. Thị trường tài chính của chúng ta đang trong thời kỳ sơ khởi các định chế cũng như các yếu tố mang tính hội nhập chưa cao là nơi dễ bị thao túng bởi các văn bản dưới luật thiếu cân nhắc.

Mặt khác thị trường vốn này chưa phải là nơi kỳ vọng cho tất cả nền kinh tế, vì các doanh nghiệp được niêm yết cũng như các công ty đại chúng của chúng ta chưa nhiều, các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể gây sốc để trục lợi và điều này cũng đã xảy ra...

Kích cầu đúng mục tiêu và theo dõi quản lý là điều hoàn toàn có thể với phương thức hỗ trợ lãi suất giảm, giãn thuế để cho các doanh nghiệp vực dậy duy trì sản xuất cũng như đầu tư tái cấu trúc sản xuất nhằm giảm giá thành đưa sản phẩm nâng cao chất lượng và hướng nội là hợp lý nhất hiện nay.

Nếu có thể thì Chính phủ cần tăng cường nâng cao khả năng kiểm soát bằng việc thành lập một cơ quan " kiểm soát và ứng cứu" để có được thông tin kịp thời mà điều chỉnh bên cạnh các cơ quan như Ngân hàng Nhà nước hoặc kiểm toán.

Tóm lại kích cầu hay kích cung cũng nhằm mục tiêu tạo sự ổn định sản xuất và việc làm để người dân an tâm trút thêm vốn đầu tư vào sản xuât. Những thị trường nhiều rủi ro và khó kiểm soát thì tuyệt đối tránh.
Hòa
20/06/2009 09:51 (GMT+7)
Tại sao lại chuyển tiền cho SCIC mà không chuyển cho các tổng công ty, tập đoàn khác?

Sau khi mua cổ phần rồi thì SCIC định thoái vốn thế nào? cho ai?

Cách kích cầu tốt nhất và công bằng nhất là phát tiền cho từng người dân để họ tự quyết định chi tiêu vào việc gì. Kinh tế thị trường sẽ tối ưu hóa đồng tiền kích cầu. Kích cầu bằng lãi suất là biện pháp rất hay nhưng thiếu sự công bằng.
Bình Minh
20/06/2009 02:15 (GMT+7)
Hình như tiến sỹ Nguyễn Minh Phong có sự nhầm lẫn giữa Gói kích cầu và Chương trình giải cứu các tài sản có vấn đề của Chính phủ Hoa Kỳ.

Thứ nhất, đối với gói kích cầu (Stimulus Package), tổng giá trị của nó là 955 tỷ đô-la được quốc hội Mỹ phê chuẩn 2 lần. Lần thứ nhất có giá trị 168 tỷ đô-la được phê chuẩn vào tháng 2 năm 2008 (thuộc nhiệm kỷ của tổng thống Bush). Gói thứ hai có giá trị 787 tỷ đô-la (con số được chính phủ Obama đề xuất là 836 tỷ đô-la) được phê chuẩn vào tháng giêng năm 2009. Cách thức chủ yếu được áp dụng là giảm thuế và hoàn tiền cho dân chúng (tax cut and rebates).

Ở gói kích cầu thứ nhất, Chính quyền Bush cứ lấy tất cả số tiền hoàn trả một lần vào một tấm séc cho những đối tượng được hưởng. Kết quả là với số tiền khá lớn, người ta đã gửi vào ngân hàng thay vì chi tiêu. Như vậy, kích cầu đã không đem lại tác dụng như mong đợi. Có lẽ rút kinh nghiệm này, trong gói kích cầu lần 2, chính quyền Obama đã chia nhỏ khoản tiền, mỗi lần chỉ gửi một tấm séc có giá trị vừa phải nên người dân không tiết kiệm mà đem chi tiêu.

Thứ hai, đối với gói giải cứu các tài sản tài chính có vấn đề (Troubled Asset Relief Program - TARP), tổng giá trị cam kết của nó là 700 tỷ đô-la. Mục tiêu của nó là giúp các tổ chức tài chính gặp khó khăn có thể đứng vững trong cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất từ năm 1930.

Xin được nói thêm là ở Mỹ Chính phủ rất ít khi can thiệp hay sở hữu các doanh nghiệp, do vậy khi bỏ hàng trăm tỷ đô-la vào các doanh nghiệp, thường chỉ dưới dạng cổ phiếu ưu đãi (nhận cổ tức hay lãi cao mà không có quyền biểu quyết), đương nhiên chính phủ vẫn có quyền chuyển thành cổ phiếu thường. Trong trường hợp này, chỉ một thời gian sau khi vượt qua khó khăn, nhiều tổ chức tài chính đã xin trả lại số tiền nhận trợ giúp từ chính phủ. Cụ thể trong đầu tháng Sáu này, 10 tổ chức tài chính đã trả lại 68 tỷ đô-la.

Thực ra, nước Mỹ đã đưa ra rất nhiều chương trình để ứng phó với cuộc khủng hoảng đang xảy ra mà tổng giá trị cam kết lên đến trên 10 nghìn tỷ đô-la. Tuy nhiên, trên thực tế, số tiền được giải ngân thấp hơn rất nhiều.

Tóm lại, không có chuyện chính phủ Hoa Kỳ kích cầu bằng việc mua cổ phiếu của các công ty. Do vậy, việc lấy nước này làm vị dụ minh họa cho đề xuất sử dụng tiền kích cầu để mua cổ phiếu là không được chính xác cho lắm.

Nếu ai có thể đọc được bằng tiếng Anh có thể tham khảo thông tin tại các địa chỉ:

http://topics.nytimes.com/topics/reference/timestopics/subjects/u/united_states_economy/economic_stimulus/
http://en.wikipedia.org/wiki/TARP
http://www.maths-fi.com/WSJ-Treasury-Lets-10-Banks-Repay-68-Billion-061009.pdf
Bùi Ngọc Sơn
19/06/2009 16:11 (GMT+7)
Quan điểm của ông Phong là lý thú nhưng cần lưu ý là:

Thứ nhất, ở Mỹ cuộc khủng hoảng không phải từ các "công ty địa ốc" mà là khủng hoảng nhà ở nên đánh thẳng vào người dân sở hữu nhà do họ được vay vốn quá dễ và mua nhà giá quá cao (bất kể nhằm mục đích để ở hay đầu cơ bán lại). Các công ty địa ốc là những ngưòi sở hữu các bất động sản lớn n­­hư các toàn nhà thương mại, khách sạn .. chỉ bị ảnh hưởng thôi.

Thứ hai, không hề có chuyện chính phủ Mỹ đem tiền đề mua "cổ phiếu của doanh nghiệp" mà chỉ mua cố phiếu của một vài ngân hàng lớn nhất để tăng vốn cho họ, giải nguy cho hệ thống tài chính, ngân hàng và từ đó cứu cả nền kinh tế.

Đừng nhầm lẫn với việc chính phủ Mỹ cho ba ông lớn ôtô vay tiền để vượt khó vì nếu để họ phá sản đúng lúc cả nền kinh tế lâm nguy là cực kỳ nguy hiểm. Ngoài trường hợp đó ra việc các công ty phá sản ở Mỹ là chuyện bình thường của công ty, chính phủ không can thiệp. Chính phủ Mỹ chỉ buộc phải làm như vậy khi phải cứu cả hệ thống mà thôi. Trước khi khủng hoảng ba CEO của các ông lớn này đã từng đề nghị chính phủ Mỹ hỗ trợ tài chính nhưng bị chính phủ khước từ thẳng thừng rồi.

Về việc mua cổ phiếu của công ty như ông Phong đề xuất. Ta tự đặt câu hỏi, trong số hàng chục nghìn doanh nghiệp đủ loại lớn bé, ngành nghề, chủ sở hữu ... thì chọn ai đây? Việc chọn lọc đó và việc thực hiện mua cổ phiếu nếu chọn được thử hỏi sẽ mất bao nhiêu thời gian, có đủ kịp thởi gian để thoát hiểm cho cả nền kinh tế lúc đó không? (tôi cho là không thể), và việc này liệu có thoát khỏi những hậu quả như tham nhũng trong việc xin cho? có thoát khỏi những hậu quả khác mà những đọc giả khác đã đề cập ở trên? (cũng không thể)

Tóm lại có những nhầm lẫn trong hiểu biểt về cuộc khủng hoảng ở Mỹ của ông Phong. Và về mặt kỹ thuật là không thể làm được như cách của ông Phong đề nghị. Về mặt thời gian không thể đủ thời gian để làm. Và cũng không tránh được những hậu quả nói trên.

Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% tất nhiên cũng có thể có những hậu quả của nó nhưng đó là cách nhanh nhất về thời gian và hiệu quả nhất về mặt kỹ thuật để giải nguy cho nền kinh tế lúc đó. Nhiều nhà khoa học lo ngại dòng tiền này sẽ chảy đến các tổng công ty rất nhiều trong khi họ lại là những người làm ăn không hiệu quả. Việc này sẽ để lại hậu quả sau này. Điều này là hoàn toàn đúng. Xét về độ nguy cấp của nền kinh tế lúc đó thì việc đó vẫn chấp nhận được, và phải chấp nhận thôi. Nếu không thì vỡ trận, đó là điều tồi tệ nhất. Trong tình thế nguy cơ vỡ trận cao thì bất kể việc gì giúp giải cứu tình hình đó đều chấp nhận được.

Tuy nhiên, nếu tận dụng hành động đó để vun đắp cho các tổng công ty là chủ yếu thì chắc sẽ có những hậu quả lớn sau này.
Phú Tân
19/06/2009 16:03 (GMT+7)
Kích cầu thông qua mua cổ phần theo ý TS. Phong là một ý kiến rất đáng quan tâm. Tuy nhiên thực tế chứng minh việc sử dụng hệ thống ngân hàng để giám sát và quản lý vốn kích cầu là hiệu quả hơn cả.

Bởi vì dẫu cho tiêu cực có xảy ra thì hệ thống NHTM vẫn giám sát trực tiếp nhất, bao quát nhất và kịp thời nhất. Nếu CP trực tiếp quản lý gói kích cầu (như ở Mỹ) ta không có đủ người, thêm vào đó, nếu giao cho SCIC tốc độ triển khai và mức độ phổ quát không caom lại có thể phát sing bất công, tiêu cực.
Khánh Chi
19/06/2009 15:43 (GMT+7)
Một hiện tượng bất thường dễ thấy và cũng không lý giải được thực rõ ràng (ngay cả đối với các chuyên gia chứng khoán) là sự tăng nóng của VN-Index trong bối cảnh suy thoái, không theo xu hướng chung của thị trường chứng khoán thế giới. Và bây giờ bắt đầu đến lượt thị trường bất động sản có vẻ ấm lên.

Liệu các nhà quản lý có quan tâm kiểm soát dòng tiền đổ vào các thị trường này một cách bất thường để có biện pháp kiểm soát và điều chỉnh gói kích cầu trước khi những hệ luỵ xấu có thể xảy ra?

Tôi tán thành ý kiến của ông Phong ở điểm này. Kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất là biếu không cho doanh nghiệp. Và thực nguy hiểm khi một số doanh nghiệp lợi dụng việc này để đảo nợ, và tranh thủ "đánh quả" trong cuộc chiến may rủi trên các canh bạc lớn tại thị trường chứng khoán và bất động sản.
Võ Hồng Văn
19/06/2009 14:32 (GMT+7)
Thực sự hệ lụy từ gói kích cầu nếu không quản lý tốt dòng tiền để trực tiến đi vào sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì hệ lụy nó là cực lớn, nên gói kích cầu hộ trợ lãi suất vừa qua của chính phủ là rất đúng vấn đề còn lại là làm tốt việc quản lý.

Tuy việc này đã được thông qua khâu trung gian là ngân hàng tuy vậy chính phủ cũng nên ráo riết và mạnh tay hơn trong việc quản lý dòng tiền này để nó đến được nơi cần đến.

Còn ý kiên mua cổ phần, theo tôi, hoàn toàn không phù hợp, bởi lẽ việc mua cổ phần thứ nhất sẽ tạo ra cơn rốt ảo trên TTCK, thứ 2 nó được thực hiện trực tiếp từ chính phủ sẽ gây ra nhiều tiêu cực hơn, thứ 3, khi mua cổ phần sẽ kèm theo sự quản lý của nhà nước sẽ làm mất quyền chủ động của doanh nghiệp.

Nên theo tôi thực hiện gói kích cầu hộ trở lãi suất của Chính phủ là hoàn toàn đúng, tuy vậy để có kết quả tốt hơn và không gây hệ lụy về sau, Chính phủ nên quản lý dòng tiền tốt hơn, nên có chính sách hộ trợ mạnh hơn cho nông thôn, đơn giản hóa thủ tục hơn cho khu vực này để nguồn vốn đến nhanh với bà con nông dân.
Chu Nguyên Chương
19/06/2009 14:25 (GMT+7)
Theo tôi thì ông Phong nói cũng có phần đúng. Tuy nhiên, tôi vẫn ủng hộ việc kích cầu LS 4% hơn là giao tiền cho SCIC. Vấn đề quan trọng là làm sao để kích cầu (kích cung nữa) một cách thực sự, chứ không phải là đổ tiền cho CK rồi tạo bong bóng ảo.
Nguyễn Thị Thu Hiền
19/06/2009 13:50 (GMT+7)
Cách giải quyết của ông Phong đưa ra chưa thực sự hợp lý, bởi nếu nhà nước hỗ trợ thông qua SCIC thì chỉ một bộ phận doanh nghiệp cổ phần hóa là được hưởng lợi, còn các doanh nghiệp cổ phần không có yếu tố nhà nước và các loại hình doanh nghiệp khác thì sẽ như thế nào?

Và không thể so sánh cách làm giữa chính phủ mỹ và Việt Nam trong trường hợp này bởi nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng là khác nhau.

Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng một phần lượng tiền gói kích cầu đã tìm đến với CK và bất động sản, có thể sẽ tạo ra bong bóng cho cả hai thị trường này.
Mạnh Cường
19/06/2009 11:47 (GMT+7)
Tiền hỗ trợ của nhà nước nên giúp doanh nghiệp tạo đầu ra cho sản phẩm và dịch vụ thì tốt hơn. Vì đó chính là khó khăn hiện nay của các doanh nghiệp. Đầu tư phát triển hạ tầng, khuyến khich thương mại nôi địa, quảng cáo cho du lịch... sẽ tốt hơn là khuyến khích vay tiền lãi suất thấp. Đây cũng là cơ hôi để phát triển công nghiệp phụ trợ thay thế hàng nhập khẩu.
Hung Quoc
19/06/2009 11:43 (GMT+7)
Theo ý kiến của tôi thì việc mua cổ phần của các doanh nghiệp có triển vọng là hợp lý. Tuy nhiên ở đây phải được hiểu mua vốn cổ phần với mục đích tăng vốn, hoàn toàn không phải mua và để giữ quyền quản lý.

Nhìn chung thì những đánh giá của ông Phong đã phần nào phản ánh đúng thực trạng sử dụng vốn kích cầu.
Phạm Tường Phán
19/06/2009 10:48 (GMT+7)
Xem ra cách thức giải quyết mà ông Phong đưa ra cũng có vấn đề. Chúng ta đang thấy chương trình cổ phần hóa đã và đang bị chậm lại, nếu Nhà nước chuyển vốn cho SCIC để mua lại cổ phần của các doanh nghiệp thì hóa ra lại đang làm ngược lại một chương trình lớn đó sao?
  Bài cùng chuyên mục
Kinh tế 5 tháng đầu năm   (2/6/2009)
Chuẩn bị gì cho thời "hậu khủng hoảng"?   (2/6/2009)
Phải hạn chế những khe hở pháp luật   (30/5/2009)
Khủng hoảng kinh tế: Ngành hàng không "ngấm đòn" trực tiếp!   (26/5/2009)
Góp ý sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước   (22/5/2009)
Lạm phát có thể dao động từ 6,3% đến 9,3%   (3/7/2009)
Thận trọng hơn với tăng trưởng tín dụng   (3/7/2009)
Cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh   (6/7/2009)
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Thận trọng tránh tái lạm phát vào cuối năm   (6/7/2009)
Luật sư Phùng Anh Tuấn, Luật sư điều hành của Công ty Luật VCI Legal: Không có hạn chế mới nào đối với nhà đầu tư nước ngoài   (6/7/2009)
Bài mới nhất
Phải giám sát độc lập việc phân cấp đầu tư   
M&A không phải là mua tài sản giá rẻ   
Xây dựng mô hình quỹ bảo lãnh tín dụng   
Năm 2010, sẽ bùng nổ kênh bán lẻ hiện đại?   
Dự báo tác động của các yếu tố đầu vào tới hoạt động sản xuất kinh doanh tại việt nam năm 2010   
 
Xem nhiều nhất
Nhìn lại chính sách tiền tệ năm 2008: Vẫn còn những cú “sốc” trên thị trường   
Sửa đổi một số điều Luật Đất đai: Phải biết nghe dân   
Thắt chặt tiền tệ chưa đủ để kiềm chế lạm phát   
Trọng tài thương mại: sẽ mạnh hơn?   
“Cần chính sách tín dụng mạnh bạo hơn”   
   Powered by Acomm