Giải pháp tiền tệ tín dụng nới lỏng là cần thiết nhưng cũng có hai mặt, do đó cần chú ý đầu ra sản phẩm của doanh nghiệp.
Ngay sau khi giá bán lẻ xăng dầu tăng thêm 700 đồng/ lít từ 1-7, nhiều ý kiến cho rằng nguy cơ tái lạm phát có thể diễn ra. Trao đổi với Pháp luật TP.HCM, sáng qua, 3-7, tiến sĩ Lê Đăng Doanh (ảnh), chuyên gia kinh tế cao cấp nhận định: “tình hình kinh tế sáu tháng đầu năm có một số diễn biến tích cực. Tăng trưởng kinh tế đã có dấu hiệu hồi phục ở một số ngành. Tuy nhiên, nguy cơ lạm phát lại đang có dấu hiệu quay trở lại vào quý III, quý IV. Bởi chính sách tiền tệ được nới lỏng, đồng thời giá cả nhiều mặt hàng thường tăng mạnh vào cuối năm sau khi giá xăng dầu liên tục tăng. Trong đó, hàng loạt các mặt hàng là nguồn nguyên liệu để chế biến xuất khẩu cũng tăng”, ông Doanh lưu ý.
Kiểm soát chặt việc nới lỏng tiền tệ
+ Thưa ông, như ông nói ở trên, giá xăng dầu tăng ít nhiều tác động đến giá cả nhiều mặt hàng khác?
. Đúng vậy. Chúng ta cứ tiếp tục tăng giá xăng như thời gian qua thì tác động lạm phát và nâng giá là không tránh được. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sáu tháng đầu năm tương đối thấp so với tháng 12-2008, nhưng so với tháng 6-2008 thì đã tăng đến 10%. Nếu như vậy thì sáu tháng cuối năm CPI phải tăng ở mức độ rất thấp thì mới tránh được lạm phát.
+Nhưng nguyên nhân chủ yếu có thể khiến lạm phát là đâu?
Có thể là do chính sách tiền tệ, tín dụng được nới lỏng. Chúng ta đưa ra một khối lượng tín dụng lớn- trên 363 nghìn tỷ đồng để trợ giúp doanh nghiệp với lãi suất ưu đãi. Tiền được đưa ra ào ạt với khối lượng lớn như vậy nhưng nếu DN không có đầu ra sản phẩm, nếu hàng không bán được thì việc DN dùng tiền vào mục đích khác chứ không phải đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh có thể xảy ra. Chính sách tiền tệ tín dụng nới lỏng và kích cầu là cần thiết nhưng nó có hai mặt, giống như uống thuốc chữa bệnh, uống quá liều lượng sẽ phát thêm bệnh khác.
+ Vậy ông có đề nghị gì?
. Chính sách tiền tệ tín dụng nới lỏng phải được kiểm soát chặt chẽ. Đồng thời, Chính phủ cần phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động của những công ty độc quyền như điện, xăng dầu. Cho đến nay, ta chưa có báo cáo về tình hình quản lý phí, cơ cấu chi phí của các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu, lợi nhuận thế nào...
Nếu xảy ra sự “bất hạnh trùng hợp” giữa yếu tố trong nước là chính sách tiền tệ tín dụng nới lỏng và tác động của cuộc tăng giá trên thị trường thế giới thì nguy cơ tái lạm phát có thể diễn ra vào quí 3 và 4 năm nay. Bởi, nếu giá thị trường thế giới tăng thì nhập khẩu sẽ tăng vọt, trong khi đó giá xuất khẩu không thể tăng tương ứng vì hầu hết các hợp đồng đã ký kết từ trước rồi... Nói tóm lại là tình hình cân đối vĩ mô sẽ rất phức tạp.
Cần thông tin rõ hiệu quả gói kích cầu
+ Liệu chúng ta có nên thu hẹp đối tượng cho vay hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn?
.Tôi muốn nhắc lại ý kiến của đại diện Ngân hàng thế giới (WB) tại hội nghị các nhà tài trợ trung tuần tháng 5. WB có phân vân rất nghiêm túc về gói kích cầu thứ hai, tức là hỗ trợ cho vay trung và dài hạn. Họ cho rằng gói này nhiều biện pháp dễ dẫn đến bội chi ngân sách lớn. WB cho rằng chúng ta phải cân nhắc, giám sát chặt chẽ gói kích cầu. Gói kích cầu được thực hiện, WB đã tính toán mức bội chi ngân sách năm nay của Việt Nam là 8,5%.
+ Nhưng sau mấy tháng triển khai hỗ trợ lãi suất, Ngân hàng nhà nước đã khẳng định gói kích cầu đã bước đầu phát huy tác dụng qua việc giải ngân được hơn 363 nghìn tỷ đồng, thưa ông?
Ngân hàng nhà nước mới chỉ công bố số tiền hỗ trợ. Thế nhưng điều mà chúng ta rất cần là các thông tin cụ thể về số tiền này đến các ngành nào, lĩnh vực nào đơn cử gói kích cầu đó đến được nông dân là bao nhiêu, làng nghề bao nhiêu... Giờ gói kích cầu hầu như dành cho các đối tượng vay theo cơ chế thương mại với lãi suất được hỗ trợ. Điều này sẽ rất có lợi cho các đối tượng có qui mô lớn, khả năng cạnh tranh tốt còn những DN “chết lâm sàng”, phá sản thì có được vay hay không?... Đó cũng là một vấn đề.
Tôi đề nghị Ngân hàng nhà nước cần phải có thông tin chi tiết ngay tỷ lệ số vốn đã được giải ngân đến từng ngành, từng đối tượng. Thông tin càng cụ thể thì chúng ta mới đánh giá được sức khỏe của các ngành.
Sáu tháng đầu năm, GDP mới đạt 3,9%. Ta muốn cả năm đạt 5% thì quí III phải đạt 6%, quí IV là 7%. Điều này không phải nói là làm được mà nó phụ thuộc nhiều vào các yếu tố trong nước và thế giới. Chúng ta đã có sự phục hồi đáng trân trọng ở một số lĩnh vực nhất định nhưng không nên quá lạc quan và coi đấy đã là hồi phục toàn diện, dẫn đến thiếu cảnh giác.
+ Xin cảm ơn ông!
Nguồn: Báo điện tử Pháp luật TP HCM